Chứng khoán hóa

Một thuật ngữ rất mới mà các nhà đầu tư còn mơ hồ, một thuật ngữ ít được sử dụng trong đầu tư chứng khoán nhưng lại ảnh hưởng lớn tới thị trường chứng khoán. Chứng khoán hóa là một quá trình, quá trình này không chỉ có ảnh hưởng lớn tới thị trường mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến xã hội.

Chứng khoán hóa

Chứng khoán hóa là gì?

Theo khái niệm của Wikipedia

Chứng khoán hóa (chuyển thành chứng khoán) là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập cao bằng tiền trong tương lai như các khoản phải thu, các khoản nợ chuyển đổi thành trái phiếu, hay gọi chung là chứng khoán và đưa ra giao dịch trên thị trường. Nói một cách dễ hiểu, chứng khoán hóa là việc chuyển các thể thức tín dụng thành thể thức chứng khoán, phát hành trong công chúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán của các nhà đầu tư.

Theo khái niệm của các nước thuộc khối OECD đưa ra năm 1995

Chứng khoán hóa là việc phát hành các chứng khoán có tính khả mại được đảm bảo không phải bằng khả năng thanh toán của chủ thể phát hành, mà bằng các nguồn thu dự kiến có được từ các tài sản đặc biệt. Nhân tố quyết định chất lượng của chứng khoán phát hành là khả năng sinh lời của các tài sản dùng làm tài sản đảm bảo, chứ không phải là nhà phát hành. Kết quả của quá trình chứng khoán hóa là các tài sản có tính thanh khoản kém thành tài sản có tính thanh khoản cao (chứng khoán – một loại hàng hóa được giao dịch trên thị trường vốn).

Nhóm tài sản chủ yếu

Chứng khoán dựa trên thế chấp bất động sản (Mortgage backed securities)

Chứng khoán dựa trên thế chấp bất động sản (Mortgage backed securities) được hình thành từ quá trình chuyển đổi từ khoản đi vay được thế chấp bởi tài sản, vì vậy khi doanh nghiệp phát hành, chủ nợ đầu tiên sẽ chuyển giao toàn bộ giấy tờ thế chấp cho nhà đầu tư đã mua trái phiếu này. Trái phiếu này không có lãi suất cao bằng chứng khoán tài sản tài chính tuy nhiên lại có rủi ro thấp hơn chứng khoán tài sản tài chính vì có chứng cứ bảo đảm khoản vay. Nhưng thực chất với những trái phiếu gắn liền với tài sản thế chấp như thế này thì ta có đầy đủ điều kiện để xem đó là một thương vụ bán tài sản. Cả người mua và người bán đều không bị thiệt hại. Người bán không còn chịu rủi ro thua lỗ từ số tài sản sau khi đã chuyển đổi và không phải chịu trách nhiệm với người mua vì người vay bị vỡ nợ hay có sự thay đổi giá thị trường về tài sản đó.

Chứng khoán hóa

Chứng khoán tài sản tài chính (Asset backed securities- ABS)

Chứng khoán tài sản tài chính (Asset backed securities- ABS) được hình thành từ quá trình chuyển đổi các khoản phải thu: từ tín dụng, từ cho vay mua nhà, vay để phục vụ cho gia đình…Ngân hàng, văn phòng cho vay sẽ chuyển những khoản phải thu này thành trái phiếu, bán cho các nhà đầu tư để thu về nhanh chóng các khoản nợ đó. Còn về phía các nhà đầu tư, khi cầm chứng khoán này trong tay họ sẽ trở thành chủ nợ mới của những người vay và có quyền lấy cả gốc và lãi của giấy nợ khi giấy nợ đã đến hạn. Tuy nhiên với những khoản nợ không có tài sản thế chấp thì độ rủi ro khi cầm chứng khoán rất cao vì có thể sẽ không đòi lại được khoản nợ này.

Rủi ro của việc chứng khoán hóa

Rủi ro của việc chứng khoán hóa là việc để lại những hậu quả khôn lường khi không còn sự rõ ràng giữa người chịu rủi ro tín dụng của những tài sản khó thanh khoản hay có độ mạo hiểm như những tài sản nợ dưới mức chuẩn. Bằng cách nào đó, rủi ro đã đươc phân bổ ra cho nhiều nhà đầu tư, giảm độ rủi ro chung xuống thấp nhất, chứng khoán hóa tạo ra khả năng lây lan rủi ro cho tất cả những nhà đầu tư vào những trái phiếu đó.  Nếu những tài sản được chứng khoán hóa coi là mạo hiểm, những nhà đầu tư có thể lo ngại rằng rủi ro cao hơn nhiều so với dự đoán. Những tài sản ví dụ như những khoản nợ dưới chuẩn, đã xâm nhập vào những danh mục đầu tư được chứng khoán hóa và trở thành những liều thuốc độc gây ra nghi ngờ đối với danh mục đầu tư đó, mặc dù chúng chỉ là một phần nhỏ. Do đó, việc chứng khoán hóa gieo rắc rủi ro của tài sản độc hại ra toàn ngành công nghiệp và những người tham gia không thật sự biết họ đang phải đối mặt với những rủi ro gián tiếp nào. Lý thuyết nói rằng xếp hạng tín dụng của những cơ quan xếp hạng sẽ cung cấp thông tin đáng tin cậy về rủi ro này. Nhưng thực tế thì những cơ quan xếp hạng chưa đủ năng lực và nhân lực để định lượng và theo dõi những rủi ro đó. Khi rủi ro rõ ràng cao hơn dự đoán, mọi thứ đều đã quá muộn. Các cơ quan xếp hạng chỉ còn có thể tăng tốc việc đánh tụt xếp hạng, để bắt kịp với những rủi ro không lường trước được. Điều này lại càng chứng nhận nỗi lo sợ của những nhà đầu tư và làm tăng mức ngại rủi ro đối với những sản phẩm này.
Hương Đặng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *